Thứ Tư, ngày 21 tháng 5 năm 2014

Chuyện con gián đất và kẻ hở của luật

Xoay quanh một số sự kiện gần đây về vụ việc nuôi gián đất ở Huyện Lương Tài, Tỉnh Bắc Ninh, vụ án Bầu Kiên cũng như chuyện xảy ra tại Tiệm Vàng Hoàng Mai ở Bình Thạnh, TpHCM cho ta thấy được những vấn đề cần phải xem lại Luật doanh nghiệp cũng như các thủ tục hành chính liên quan. 

Trước tiên lược qua câu chuyện nuôi Gián đất ở Bắc Ninh, sự việc như các đài báo đã đưa tin. Ông Nguyên là giám đốc công ty Hoàng Hiệp đã bỏ vốn ra đầu tư vào ngành nuôi côn trùng. Chi tiết: Nuôi con Gián đất. Và một số hộ trong huyện Lương Tài cũng theo mô hình đó thực hiện đầu tư. Với sự hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật Trung Quốc. Và được hứa sẽ thu mua hết số Gián mà các hộ nuôi để về Trung Quốc chế thuốc. 

Cuối năm 2013, ông làm hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp với ngành nghề như nêu ở trên. Được Sở kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bắc Ninh cấp phép. Trong giai đoạn nuôi trồng thì có quyết định tiêu hủy toàn bộ số Gián đó bởi quyết định của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thông tỉnh Bắc Ninh. Với lý do đây là Ông bươu vàng, rùa tai đỏ thứ 2. Hay nói cách khác là phiên bản 2.0 của ốc bươu vàng và rùa tai đỏ. Tác hại của rùa tai đỏ hay ốc bươu vàng thì chắc các bạn cũng đã biết. 

Nhưng ở đây chúng ta không bàn về việc tác hại của nó, mà chúng ta sẽ bàn đến việc cấp phép một ngành nghề luật không cấm nhưng khi thực hiện lại không được. Như vậy có hợp lý hay không? Xét về góc độ pháp lý thì sẽ ra sao, vụ việc sẽ được giải quyết như thế nào cho hợp tình, hợp pháp và không gây hậu quả nghiêm trọng đến nhà đầu tư. (Thực tế thì đã gây hậu quả khá nghiêm trọng, số vốn bỏ ra của riêng Ông Nguyên là 2.6 tỷ, chưa tính tinh thần bị tác động).

Thứ nhất: Theo khoản 1 điều 7 thì "Doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có quyền kinh doanh các ngành, nghề mà pháp luật không cấm". Và đối với ngành nghề này theo sở kế hoạch và đầu tư là không cấm nên được cấp phép. 
Theo nghị định 05/2013/NĐ-CP thì "Đối vi những ngành, nghề kinh doanh không có trong Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam và chưa được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật khác thì cơ quan đăng ký kinh doanh xem xét ghi ngành, nghề kinh doanh này vào Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp nếu không thuộc ngành, nghề cấm kinh doanh, đồng thời thông báo cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Tổng cục Thống kê) để bsung mã mới.”
Đồng thời, chiếu theo điểm O khoản 1 điều 7 NĐ 102 thì "Kinh doanh các loại sản phẩm, hàng hóa và thiết bị cấm lưu hành, cấm sử dụng hoặc chưa được phép lưu hành và/hoặc sử dụng tại Việt Nam" 
Nếu chiếu theo luật doanh nghiệp và nghị định 05 thì doanh nghiệp không có gì sai, và sự cấp phép này hoàn toàn hợp lý. Tuy nhiên, sở viện dẫn lấy điều 7 trong nghị định 102, và cho rằng đây là trường hợp thuộc điều này. 
Theo đúng bản chất, luật phải rõ ràng, minh bạch và thống nhất. Trong khi đó, đối với quy định này thì không còn là luật nữa. Với quy định nửa vời như vậy thì nhà đầu tư không dám và không thể an tâm khi thực hiện các kế hoạch kinh doanh của mình được. 

Và từ đây cho ta thấy được sẽ có một tiền lệ phát sinh, hay nói cách khác Sở kế hoạch của các tỉnh thành sẽ không bao giờ dám cấp phép cho những doanh nghiệp có những ngành nghề mới như điều 7 nêu trên. Đây sẽ là một điểm mà Sở sẽ vin vào để không cấp phép cho những ngành nghề mà Sở sợ "bị  vạ lây" như trường hợp nuôi Gián đất vừa rồi.

Từ miên bắc xa xôi chúng ta về lại với TpHCM với vụ việc tại Tiệm vàng Hoàng Mai, chúng ta nhìn nhận vụ việc này dưới góc độ pháp lý như thế nào.
Chuyện xảy ra ở Quận Bình Thạnh, với sự việc như một số đài báo đã nêu. Liên quan đến việc cấm kinh doanh vàng miếng tại các doanh nghiệp kinh doanh vàng theo nghị định 24. Chúng ta sẽ xét dưới góc độ Luật doanh nghiệp.
Trong luật doanh nghiệp, đối với loại hình Công Ty TNHH một thành viên, công ty TNHH 2 thành viên trở lên, công ty Cổ Phần thì các thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm trên số vốn góp. Và tách biệt tài sản của cá nhân với tài sản của doanh nghiệp. Cụ thể trong luật quy định " Phải xác định và tách biệt tài sản của chủ sở hữu công ty và tài sản công ty". 

Theo đó, số tài sản 559 lượng vàng kia là của cá nhân bà Mai, vậy tại sao có thể tịch thu để điều tra nguồn gốc. Thật trớ trêu khi nhà thi hành luật mà lại tịch thu vô căn cứ như vậy. Và từ đây sẽ có những hệ lụy liên quan sẽ xảy ra. Và khoản 3 điều 65 trong luật doanh nghiệp coi như bị tê liệt bởi trường hợp này...

Còn nữa....

Thứ Tư, ngày 07 tháng 5 năm 2014

HỘI NGHỊ DIÊN HỒNG XƯA VÀ NAY



Hội nghị Diên Hồng là hội nghị năm 1284 do Thượng hoàng Trần Thánh Tông triệu họp các phụ lão trong cả nước để trưng cầu dân ý, hỏi về chủ trương hòa hay chiến khi quân Nguyên Mông sang xâm lược Việt Nam lần thứ 2.

Đó là lần trưng cầu dân ý đầy tính dân chủ, thể hiện tính thượng tôn trong hiến pháp (Tuy rằng lúc đó chưa có hiến pháp). Vậy liệu lần này có một hội nghị tương tự như vậy trong những ngày tới hay không? Liệu những giải pháp mềm mỏng từ trước tới nay có hiệu quả không. Trong khi người ta vẫn dùng kế sách " Con lạc đà"?  Chuyện như thế này:

Trên sa mạc cát mênh mông và lạnh lẽo của màn đêm, có một con lạc đà đi tìm chỗ trú ẩn. Nó đi mãi mà không tìm được một nơi nào. Cuối cùng, lạc đà cũng tìm thấy một ngôi lều, song lều lại là của người khác.
Đầu tiên, lạc đà cầu xin:
- Thưa chủ nhân, đầu tôi lạnh cóng rồi, cho tôi thò đầu vào trong lều ấm áp nhé!
Thương lạc đà, chủ nhân đồng ý. Được một lúc, lạc đà lại nói:
-  Chủ nhân ơi, vai tôi tê cóng rồi, cho tôi thò thêm người vào nhé!
Thương lạc đà, chủ nhân lại đồng ý. Rồi không ngớt van xin, lạc đà tiến dần vào, cuối cùng cả người chui gọn vào trong lều.
Chủ nhân hơi băn khoăn, một mặt vì hơi thở lạc đà hôi quá, nhưng mặt khác, sa mạc mênh mông quá, ông ta cũng cần một người bạn để qua cơn lạnh và chế ngự nguy hiểm. Bấy giờ, lạc đà đã chiếm nhiều không gian hơn trong lều, chủ nhân không xoay nổi người nữa. Đến khi lạc đà khỏe khoắn trở lại và hoàn toàn khống chế ngôi lều, nó chẳng ngần ngại nói:
Chủ nhân, ngôi lều này quá nhỏ, tôi xoay xở rất khổ, ông hãy cút cho tôi nhờ!

Nói chuyện con lạc đà và Hội nghị diên hồng nghe xa xôi quá. Có một chuyện mới toanh "Như ngày hôm qua" kể cùng các bạn. Chuyện là thế này:

Năm nay tôi 30 tuổi, vẫn chưa có một mối tình vắt vai, nói như những người bạn tôi thì tuổi này cưới vợ được rồi. Tôi cũng nghĩ là vậy. Hôm qua đi học, gặp một cô bé khá dễ thương, nhìn có thiện cảm, và tôi nghĩ ngược lại cô ấy cũng nghĩ như vậy. 
Vậy theo các bạn là tôi có nên "đánh" hay nên "hòa" với cô bé này. Phương pháp tôi tiếp cận như thế nào, mềm mỏng hay cứng rắn, nếu mềm mỏng liệu người ta có cho mình là "đàn bà" không (nói câu này xin lỗi mấy chị em), nhưng mềm không có nghĩa là mềm yếu. Còn nếu cứng thì cứng cỡ nào, gặp là đánh hay sẽ mềm rồi cứng?

Người ta nói, giặc đến nhà đàn bà cũng đánh, vậy giặc đã đến nhà chưa, những thanh niên, con trai, nam tử hán đại trương phu đâu mà phải để đàn bà cũng phải đánh? Nếu số phận của một quốc gia mà chỉ như việc cưới vợ của tôi, thì tôi chỉ cần mềm, mềm không được nữa thì đầu hàng. Còn nếu đó là mồ hôi, nước măt, máu trộn bùn non của ông cha, thì phải có Hội nghị diên hồng lần thứ 2. Tuy nhiên, nếu bắt buộc phải dùng vũ lực thì hãy để nó thò mũi khoan xuống đã. Còn không sẽ là một cạm bẫy. 

Thứ Ba, ngày 06 tháng 5 năm 2014

Điều 258 Bộ Luật Hình Sự và những nổi lo


Lý thuyết công ty và một số ứng dụng vào cải cách hiến pháp ở Việt Nam hiện nay - Phần 3



1.        Đưa tinh túy của tinh thần doanh nghiệp vào bộ máy nhà nước
Qua việc phân tích nguồn gốc quyền lực và điểm dị biệt tha hóa, thì chúng tôi thấy rằng nhà nước và công ty cổ phẩn có nhiều điểm tương đồng đến mức hình thành nên trong chúng tôi ý tưởng đưa tinh túy của tinh thần doanh nghiệp vào bộ máy nhà nước. Hay nói cách khác, khi dỡ bỏ tấm mặt nạ huyền bí, lật mặt những mưu đồ làm cho quyền lực nhà nước trở nên khó hiểu, xa rời cuộc sống và hãy quan sát nhà nước như một siêu công ty cung cấp hàng hóa cộng cộng đặc biệt thì chúng ta sẽ có những cách tiếp cận mới phục vụ công cuộc sửa đổi hiến pháp, cải cách hành chính của Đảng và Nhà nước hiện nay.

Lý thuyết công ty và một số ứng dụng vào cải cách hiến pháp ở Việt Nam hiện nay - Phần 2



1.        Thiếu minh bạch: nguyên nhân dẫn đến nguy cơ tha hóa quyền lực nhà nước
1.1.           Minh bạch trong thiết lập quyền lực nhà nước
Tính minh bạch thấp của quyền lực nhà nước bắt đầu từ sự rối rắm trong cách giải thích về bản chất nhà nước, nguồn gốc nhà nước. Trước khi quan điểm quan điểm „nhà nước của dân, do dân, vì dân“ được các quốc gia văn minh chấp nhận rộng rãi từ thế kỷ 18, thì nguồn gốc nhà nước là một vấn đề thần bí rối rắm. Các vị vua phong kiến đã hậu thuẫn cho các học thuyết thần quyền về nguồn gốc nhà nước để lý giải cho sự cai trị độc đoán của mình và trạng thái vô quyền của nhân dân. Các học thuyết này đều có điểm chung: nhà vua nhận quyền lực từ một đấng siêu nhiên (là ngọc hoàng ở phương Đông, là thượng đế ở phương tây) để thiết lập nên nhà nước và thay mặt đấng siêu nhiên trị vị nhà nước đó; nếu nhân dân chịu cảnh lầm than bởi bàn tay tàn bạo của một vị vua nào đó, thì họ không nên lật đổ nhà vua, mà nên tự sám hội, xem xét xem dân tộc đó đã phạm lỗi gì để thượng đế nổi giận cử một ông vua như vậy xuống trần gian trừng phạt dân tộc đó. Vào cuối thế kỷ 17, với sự tiến bộ vượt bậc của khoa học kỹ thuật thì các học thuyết thần quyền không còn chỗ đứng, nhưng nhân loại lại phải tiếp tục đối mặt với hai nhóm học thuyết mới: học thuyết bạo lực và học thuyết ngụy dân chủ trước khi số đông nhân loại tiếp cận được với học thuyết khế ước xã hội.

Lý thuyết công ty và một số ứng dụng vào cải cách hiến pháp ở Việt Nam hiện nay - Phần 1


1.        Từ quan niệm về nhà nước – công ty đến việc nghẫm lại chức năng hiến pháp
Công ty cổ phần và nhà nước là hai thực thể nhân tạo, do con người lập ra, quay lại phục vụ con người. Nếu nhà nước phong kiến, độc tài chỉ phục vụ lợi ích của một nhóm nhỏ, thì nhà nước của dân do dân vì dân có bổn phận phục vụ tất cả các thành viên trong xã hội. Tương tự như vậy công ty cổ phần là của cổ đông, do cổ đông, vì cổ đông.

Thứ Hai, ngày 03 tháng 3 năm 2014

Bản chất của thuế giá trị gia tăng nên hiểu thế nào

Trước pháp luật, mọi người đều bình đẳng, không phân biệt nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội.

Thế nhưng điều đó lại không đúng trong một số trường hợp không phải đối với cá nhân mà đối với pháp nhân, à quên. Nhà nước ta không có luật định tội cho pháp nhân. Nên có lẽ sẽ tồn tại sự chênh lệch và thiên vị trong đó. 

Nếu trong một lớp học, khi học viên phát biểu sai bản chất thì thầy cô sẽ có những chỉnh sửa cũng có thể có những tiếng cười ồ khi phát biểu của bạn bị sai. Nhưng nó sẽ được thay đổi ngay sau đó. Còn nhà làm luật ban hành sai bản chất thì sao, liệu sau cái cười ồ đó có được thay đổi, chỉnh sửa để cho phù hợp với cuộc sống hay không. Hay cười vẫn là cười và thực thi vẫn cứ thực thi. Điều này có lẽ phải gặp Ông La Quán Trung mới biết được. (Hạ hồi phân giải).

Chúng ta nói về loại thuế mà được nhiều doanh nghiệp quan tâm hạng nhì hiện nay. Đó là thuế Giá trị gia tăng. Có lẽ một ai nghe từ giá trị gia tăng cũng hiểu phần nào loại thuế này rồi. Giá trị gia tăng là khoản giá trị tăng thêm khi thực hiện bán một sản phẩm. Hay nói cách khác là phần chênh lệch giữa giá trị mua vào và giá trị bán ra.

Theo đó, dựa vào giá trị tăng thêm trên một sản phẩm mà người ta tính ra số thuế phải nộp của doanh nghiệp trong một kỳ đó. Thông thường là tháng hoặc quý. Nếu hiểu như vậy thì sẽ đúng theo tên gọi vốn có của nó. Nhưng thực tế thì điều đó đã thay đổi cách đây một thời gian theo cách hiểu hay họ cứ áp đặt vào nó một bản chất vốn dĩ không phải là của nó. Cụ thể: Giả sử chúng ta mua 1 đơn vị hàng hóa có giá là 100 đồng. Và khi chúng ta bán ra với giá 150 đồng. Thì giá trị tăng thêm hay giá trị gia tăng ở đây sẽ là: 150 - 100 = 50 đồng. Và từ con số này người ta mới tính thuế phải nộp cho một đơn vị hàng hóa hoặc tổng hàng hóa. Nếu mặt hàng này chịu thuế 10% thì số thuế phải nộp là: 50x10% = 5 đồng. Đó chính là bản chất của thuế giá trị gia tăng. 

Tuy nhiên, hiện nay bản chất của nó (thuế GTGT) đã được thay đổi. Cụ thể, vẫn mặt hàng đó, khi mua vào với giá 100 đồng. Doanh nghiệp thanh toán 10% tiền thuế. Tức là thanh toán 10 đồng. Sau đó bán ra với giá 150 đồng và đóng thêm 1 lần thuế với thuế suất 1% nữa. Như vậy số thuế hiện nay phải đóng là: 150x1% = 1.5 đồng. Đây không phải là thuế giá trị gia tăng. Nếu nói tính một cách công bằng thì doanh nghiệp này sẽ không phải thanh toán phần 10% khi mua hàng vào. 

Nhưng điều gì cũng có thể xảy ra mà, vì không thể định tội cho pháp nhân và cái cười ồ đó sẽ không làm thay đổi bản chất của thực tế.

Thứ Bảy, ngày 22 tháng 2 năm 2014

Hiếm muộn thật khó sống

Từ khi hội nhập nền kinh tế đến nay, những hiệp định liên quan đến thuế đã được những nước thành viên ủng hộ và thực thi. Trong đó hiệp định tránh đánh thuế 2 lần là một hiệp định tiêu biểu và thể hiện rõ nét. Việc ký kết Hiệp định này sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển của quan hệ hợp tác thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và các nước thành viên, tạo ra một môi trường pháp lý về thuế rõ ràng, ổn định để các nhà đầu tư giữa Việt Nam và các thành viên phát triển, mở rộng các hoạt động kinh doanh - đầu tư, đồng thời qua đó gián tiếp tăng cường quan hệ hợp tác toàn diện trên các lĩnh vực giữa Việt Nam và các nước trong khối.

Đó là vấn đề liên quan đến mối quan hệ giữa những quốc gia với nhau, còn trong mỗi quốc gia đó lại có những chính sách, những chủ trương riêng hay là có luật thuế riêng cho quốc gia đó. Tại quốc gia đó, việc thu thuế cao hay thấp, chính sách siết chặt hay nới lỏng thì đôi khi còn phụ thuộc vào một nhóm người quyết định. 

Nền kinh tế trong thời gian hiện nay như một người bệnh, cần phải được dưỡng bệnh và uống những viên thuốc bổ nhằm lấy lại sức lực. Nếu trong lúc suy yếu, kiệt quệ này mà sử dụng loại thuốc quá liều thì cũng tạo ra tác dụng phụ. Hãy cho người bệnh ăn cháo trắng trước khi cho ăn những thứ bổ dưỡng khác. Như vậy mới dễ hấp thu và tiêu thụ.

Bên cạnh đó, cũng trong tình trạng này, nếu chỉ cần một động tác nhỏ, sơ ý hay cố ý cũng có thể làm người bệnh lăn ra ngay lập tức và không còn sức kháng cự. Những động tác đó, những lỗi vô ý hay cố ý đó chính là những chính sách, những văn bản được ban hành liên quan đến doanh nghiệp hiện nay.

Liệu những nhà hoạch định chính sách có cần VI HÀNH như những ông vua ngày xưa. Muốn do thám tình hình đành phải giả dân, đi vào dân dò thám tình hình? Nhưng đó là ngày xưa, còn giờ, khi mà ngồi ở đâu cũng có thể lướt web, có thể nghe ngóng mọi điều, dù những thông tin đó cần phải được sàng lọc. Tuy nhiên, qua đó nó phản ảnh phần nào tình hình thực tế. Hãy nhắm mắt lại nếu thấy buồn và hãy mở mắt thật to nếu cần phải làm điều gì đó để thay đổi.

Cuối năm 2013 đầu năm 2014 một số văn bản liên quan hướng dẫn luật thuế GTGT ra đời, nổi bật là nghị định 209/2013/NĐ-CP và thông tư 219/2013/TT-BTC hướng dẫn thi hành nghị định trên. Một điểm nổi bật và làm tất bật doanh nghiệp đó là Phương pháp tính thuế GTGT. Một lần nữa lại thấy cảnh cơ cực của doanh nghiệp như năm 2010 khi thông tư 153/2010/TT-BTC ra đời. Nhưng điều đáng nói ở đây không dừng lại ở thủ tục mà còn nội dung và những ảnh hưởng của nội dung được ban hành đó. Cụ thể:

Điều kiện để được áp dụng phương pháp khấu trừ thuế GTGT là: Cơ sở kinh doanh đang hoạt động có doanh thu hàng năm từ bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ từ một tỷ đồng trở lên và thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hóa đơn, chứng từ, trừ hộ, cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp tính trực tiếp hướng dẫn tại Điều 13 thông tư 219/2013/TT-BTC.

Theo đó, chúng ta có thể phần tích tính lãng phí và không phù hợp ở điểm này như sau: Doanh nghiệp A thành lập năm 2014, khi chưa xác định được doanh thu thì phải áp dụng theo phương pháp trực tiếp. Theo phương pháp này, thuế GTGT đầu vào sẽ không được khấu trừ. Giả sử DN A mua hàng hóa hết 1 tỷ đồng, và bán ra được 1.2 tỷ, thì DN A phải chi là 1.1 tỷ (Thuế GTGT đầu vào là 100 triệu). Và khi thực hiện bán lô hàng kia ra, với doanh thu 1.2 tỷ, DN A lại phải đóng thuế GTGT trên 1.2 tỷ x 1% = 12 triệu. Vậy tổng cộng DN A phải đóng 112 triệu đồng tiền VAT. Như vậy có hợp lý không. Phải chăng đây là cách hợp pháp hóa tăng thuế suất thuế GTGT. Và thuế suất lúc này tối thiểu cũng 11%. Đó là tính với DN thương mại. Còn dịch vụ thì sao, lúc đó con số này sẽ là 15%. Tính lãng phí ở đây được thể hiện, nếu doanh nghiệp in một số cuốn hóa đơn bán hàng, sau 1 năm sử dụng không hết, và doanh số trên 1 tỷ theo yêu cầu. Doanh nghiệp phải hủy hóa đơn và in lại hóa đơn GTGT. Có nên như vậy không?

Trong công văn 471/CT-TTHT có hướng dẫn việc áp dụng phương pháp khấu trừ thuế: Doanh nghiệp, hợp tác xã mới thành lập có thực hiện đầu tư, mua sắm tài sản cố định, máy móc, thiết bị, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam theo hợp đồng nhà thầu, hợp đồng nhà thầu phụ theo hướng dẫn của Bộ Tài chính; Và để có thể chứng mình điều này doanh nghiệp phải làm bản cam kết. 
"Đối với doanh nghiệp, hợp tác xã mới thành lập có thực hiện đầu tư, mua sắm tài sản cố định, máy móc, thiết bị:
- Văn bản Thông báo về việc áp dụng phương pháp tính thuế theo mẫu số 06/GTGT ban hành kèm theo Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số Điều của Luật Quản lý thuế.
- Văn bản doanh nghiệp cam kết có thực hiện đầu tư, mua sắm tài sản cố định, máy móc, thiết bị."

Tài sản cố định thì rõ rồi, có điều kiện cụ thể. Còn thiết bị ở đây được hiểu như thế nào, thiết bị phòng cháy chữa cháy có được không, thiết bị nghe nhìn có được không? Trị giá ra sao? Việc cam kết này có thời hạn bao lâu, sau khi thành lập bao lâu thì anh phải mua sắm tài sản cố định, nếu nói chung chung thì mọi doanh nghiệp đều có thể cảm kết, vì họ xác định chiến lược lâu dài mà. 

Phải chăng doanh nghiệp lại tiếp tục bị móc túi sau khi bán hàng ngoài những khoản đã thu ngay từ khi mua hàng? ? Đó là những vấn đề cần được quan tâm và trả lời từ những lời nói thật của những người làm luật.

Thứ Sáu, ngày 27 tháng 12 năm 2013

1. Khai thuế đối với trường hợp nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, nộp thuế TNDN trên cơ sở kê khai doanh thu, chi phí để xác định thu nhập chịu thuế TNDN.
Bên Việt Nam ký hợp đồng với Nhà thầu nước ngoài, Nhà thầu nước ngoài ký hợp đồng với Nhà thầu phụ nước ngoài có trách nhiệm thông báo bằng văn bản với cơ quan thuế về việc Nhà thầu nước ngoài, Nhà thầu phụ nước ngoài thực hiện nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, nộp thuế TNDN trên cơ sở kê khai doanh thu, chi phí để xác định thu nhập tính thuế TNDN trong phạm vi 20 (hai mươi) ngày làm việc kể từ khi ký hợp đồng.
Khi cơ quan thuế cấp Giấy chứng nhận đăng ký thuế cho Nhà thầu nước ngoài, Nhà thầu phụ nước ngoài thì Nhà thầu nước ngoài, Nhà thầu phụ nước ngoài có trách nhiệm gửi 01 (một) bản chụp Giấy chứng nhận đăng ký thuế có xác nhận của Nhà thầu nước ngoài, Nhà thầu phụ nước ngoài cho bên Việt Nam hoặc Nhà thầu nước ngoài. Trường hợp có phát sinh việc thanh toán cho Nhà thầu nước ngoài trong thời gian bên Việt Nam chưa nhận được bản chụp Giấy chứng nhận đăng ký thuế của Nhà thầu nước ngoài thì bên Việt Nam có trách nhiệm kê khai, khấu trừ và nộp khoản thuế GTGT, thuế TNDN thay Nhà thầu nước ngoài, nhà thầu phụ nước ngoài phải nộp như hướng dẫn tại khoản 3 Điều này.
Khi Nhà thầu nước ngoài, Nhà thầu phụ nước ngoài đã được cơ quan thuế cấp giấy chứng nhận đăng ký thuế thì Nhà thầu nước ngoài, Nhà thầu phụ nước ngoài có trách nhiệm khai, nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ đối với doanh thu phát sinh kể từ khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký thuế. Số thuế GTGT bên Việt Nam đã nộp thay Nhà thầu nước ngoài, Nhà thầu phụ nước ngoài theo tỷ lệ (%) không bù trừ vào số thuế GTGT phải nộp của Nhà thầu nước ngoài, Nhà thầu phụ nước ngoài; đồng thời Nhà thầu nước ngoài, Nhà thầu phụ nước ngoài không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào phát sinh trước khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký thuế.
2. Khai thuế đối với trường hợp nộp thuế GTGT tính trực tiếp trên GTGT, nộp thuế TNDN theo tỷ lệ % tính trên doanh thu.
Khai thuế đối với trường hợp nộp thuế GTGT tính trực tiếp trên GTGT, nộp thuế TNDN theo tỷ lệ % tính trên doanh thu là loại khai theo lần phát sinh thanh toán tiền cho nhà thầu nước ngoài và khai quyết toán khi kết thúc hợp đồng nhà thầu.
Trường hợp bên Việt Nam thanh toán cho Nhà thầu nước ngoài nhiều lần trong tháng thì có thể đăng ký khai thuế theo tháng thay cho việc khai theo từng lần phát sinh thanh toán tiền cho Nhà thầu nước ngoài.
- Bên Việt Nam ký hợp đồng với Nhà thầu nước ngoài khấu trừ và nộp thuế thay cho Nhà thầu nước ngoài và nộp hồ sơ khai thuế, hồ sơ khai quyết toán thuế cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp của bên Việt Nam.
Đối với hợp đồng nhà thầu là hợp đồng xây dựng, lắp đặt thì nộp hồ sơ khai thuế, hồ sơ khai quyết toán thuế cho Cục thuế hoặc Chi cục Thuế do Cục trưởng Cục Thuế địa phương nơi diễn ra hoạt động xây dựng, lắp đặt quy định.
- Bên Việt Nam có trách nhiệm đăng ký thuế với cơ quan thuế quản lý trực tiếp để thực hiện nộp thay thuế cho Nhà thầu nước ngoài, Nhà thầu phụ nước ngoàitrong phạm vi 20 (hai mươi) ngày làm việc kể từ khi ký hợp đồng.

Cảm nhận về internet

Làm việc với google cũng giống như nói chuyện với con gái. Có những lúc làm cho người ta vui mà mình không hề biết.

Thứ Tư, ngày 11 tháng 12 năm 2013

Nơi người dân yêu quý cơ quan... thuế

Một chủ doanh nghiệp nhỏ ở Thụy Điển quá bận nên gần thời hạn khai thuế đã gửi fax đến cơ quan thuế: "Xin lỗi, tôi không thể hoàn thành kịp", và sẵn sàng đón nhận mọi hậu quả. Một bản fax gửi lại: "Không sao, quý vị cứ từ từ làm".
Có lẽ vì thế mà chắc chỉ ở Thụy Điển mới có chuyện cơ quan nhà nước được người dân yêu thích nhất lại chính là cơ quan đi thu tiền của dân. Thuế cũng được bầu là cơ quan nhà nước hiện đại nhất ở nước này.


Kết quả này không phải một sớm một chiều mà có, vì Thụy Điển cũng như mọi quốc gia khác, cũng từng có quan điểm cũ kỹ về việc thu thuế.
Theo bà Charlotte Nilsson, đại diện truyền thông của Cơ quan thuế Thụy Điển, "những năm 1970, việc thu thuế là mệnh lệnh hành chính, người nộp thuế với chính quyền không khác gì 'kẻ thù'. Những năm 1980-1990, quan điểm về thuế thay đổi, trở thành một dịch vụ nhà nước cung cấp cho người dân. Đến những năm 2000, thuế được coi là vấn đề lòng tin, dân tin nhà nước thì họ sẽ nộp thuế. Kể từ năm 2010, chúng tôi chuyển mạnh sang dịch vụ điện tử, xử lý tự động hầu hết các công đoạn, đồng thời tăng cường giao tiếp với dân".
Kinh nghiệm bà chia sẻ chính là: Lắng nghe người dân, người nộp thuế để thấy mình sai - điều mình cho là quan trọng nhất có khi lại là điều ít quan trọng nhất với họ. Nói cách khác, có sự khác nhau khá lớn trong cách nhìn nhận của cán bộ thuế và người nộp.
Khi cán bộ thuế đối xử với người nộp thuế chỉ như "nguồn nộp tiền", không quan tâm, không giải thích, người dân sẽ thấy mình kém cỏi, tự ti. Tệ hơn, nếu họ cảm thấy cơ quan thuế có thành kiến, đề phòng họ, họ cũng không tin tưởng cơ quan thuế nữa, có phản ứng tiêu cực như không hợp tác, than phiền, thậm chí kiện tụng.
Từ đó, Cơ quan thuế Thụy Điển tự đặt cho mình mục tiêu phải "năng động, đáng tin cậy và hữu ích", trong đó "hữu ích" là phẩm chất đột phá.
Bắt đầu từ con người, cán bộ được tuyển vào cơ quan thuế không những phải giỏi chuyên môn mà còn phải có khả năng giải thích và giao tiếp với người dân, doanh nghiệp. Nếu có cán bộ ứng xử không tốt với dân, cơ quan thuế sẽ có ngay lời xin lỗi, sửa sai, có thể ra tòa nếu cần thiết.
Cơ quan thuế tăng cường trao đổi với báo chí và minh bạch về mọi thứ. "Mọi người dân đều có thể truy cập thông tin không chỉ của mình mà của người khác, để thấy mọi người đều nộp thuế một cách công bằng, những người nộp thuế chậm hay gian lận thuế cũng tự thấy xấu hổ mà không cần biện pháp mạnh", bà Nilsson chỉ ra.
Cơ quan thuế ở Thụy Điển còn "hữu ích" đến mức họ đến với các doanh nghiệp không chỉ những lúc thu thuế mà theo sát giúp đỡ doanh nghiệp từ khâu sổ sách kế toán, để đảm bảo thu đúng thu đủ chứ không phải thu nhiều hay ít.
Người nộp thuế là cá nhân cũng không phải lo lắng những quy trình phức tạp khi khai thuế. Nắm trong tay đầy đủ thông tin, cơ quan thuế "điền trước" hầu hết số liệu cho người dân. Đến thời hạn nộp, người dân chỉ cần truy cập để kiểm tra, bổ sung, điều chỉnh thông tin nếu cần và xác nhận. Ngày càng ít người phải đến tận cơ quan thuế để thực hiện nghĩa vụ một cách thủ công.
Đó là do trong quá trình thay đổi tư duy, Cơ quan thuế ở Thụy Điển đã quyết định ứng xử với người dân một cách tôn trọng hơn: cung cấp nhiều thông tin và kiến thức hơn, khuyến khích động viên, thậm chí ghi nhận khen ngợi nhiều hơn, trả lời thắc mắc kịp thời hơn, giúp đỡ những người khó khăn như ở xa, hạn chế về ngôn ngữ, phương tiện...
Còn điều đã thúc đẩy Cơ quan thuế tự thay đổi mình như vậy chính là điều làm nên hình ảnh của Thụy Điển trước thế giới: hệ thống an sinh xã hội hàng đầu.
"Thuế chính là công lý, công bằng xã hội, là nguồn thúc đẩy tăng trưởng và đảm bảo an sinh xã hội", đại diện truyền thông của Cơ quan thuế cho biết.
Những người làm công tác thu thuế ở Thụy Điển vô cùng tự hào về công việc của họ, vì những gì miêu tả ở trên chính là mục tiêu năm 2018 mà ngay lúc này, họ đã hoàn thành.
Theo Vietnamnet

Thông tư 156/2013/TT-BTC và những điểm mới

Bộ Tài chính mới ban hành Thông tư 156/2013/TT-BTC hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế , Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế và Nghị định 83/2013/NĐ-CP. Thông tư 156/2013/TT-BTC có hiệu lực thi hành từ ngày 20/12/2013 và thay thế cho Thông tư số 28/2011/TT-BTC.

Cụ thể: 
1. Người nộp thuế (NNT) đăng ký thuế nhưng chưa thông báo các tài khoản tại ngân hàng thương mại , tổ chức tín dụng với cơ quan thuế thì phải thông báo bổ sung theo mẫu số 08-MST ban hành kèm theo Thông tư này, thời hạn chậm nhất ngày 31/12/2013. Khi có thay đổi, bổ sung số tài khoản thì phải thông báo trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày phát sinh sự thay đổi.
2. Hồ sơ khai thuế GTGT có bổ sung Bảng kê hàng hóa, dịch vụ được áp dụng thuế suất 0% theo mẫu số 01-3/GTGT.
3. Một số ví dụ hướng dẫn xác định đối tượng kê khai thuế GTGT theo tháng / quý:
- Doanh nghiệp B bắt đầu hoạt động sản xuất kinh doanh từ tháng 8/2013 thì từ kỳ khai thuế tháng 8/2013 đến kỳ khai thuế tháng 12/2014, doanh nghiệp B thực hiện khai thuế GTGT theo tháng. Doanh nghiệp căn cứ vào doanh thu của năm 2014 (đủ 12 tháng của năm dương lịch) để xác định năm 2015 thực hiện khai thuế theo tháng hay theo quý.
- Doanh nghiệp C năm 2012 có tổng doanh thu là 18 tỷ đồng nên thuộc diện khai thuế GTGT theo quý từ ngày 01/7/2013. Doanh thu của năm 2013; 2014; 2015 hoặc 2016 là 25 tỷ đồng thì doanh nghiệp C vẫn tiếp tục thực hiện khai thuế GTGT theo quý đến hết năm 2016. Từ năm 2017 sẽ xác định lại chu kỳ khai thuế mới dựa trên doanh thu của năm 2016.
- Doanh nghiệp E năm 2012 có tổng doanh thu là 17 tỷ đồng nên thuộc diện khai thuế GTGT theo quý từ ngày 01/7/2013. Năm 2014, cơ quan thuế thanh tra kết luận doanh thu tính thuế GTGT của năm 2012 là 22 tỷ, thì từ năm 2015 đến hết năm 2016 doanh nghiệp E thực hiện khai thuế GTGT theo tháng. Từ năm 2017 sẽ xác định lại chu kỳ khai thuế mới dựa trên doanh thu của năm 2016.
- Doanh nghiệp G năm 2012 có tổng doanh thu là 17 tỷ đồng nên thuộc diện khai thuế GTGT theo quý từ ngày 01/7/2013. Năm 2014, Doanh nghiệp G tự khai bổ sung doanh thu tính thuế GTGT của năm 2012 tăng thêm 5 tỷ so với số liệu kê khai là 22 tỷ, thì từ năm 2015 đến hết năm 2016 doanh nghiệp G thực hiện khai thuế GTGT theo tháng. Từ năm 2017 sẽ xác định lại chu kỳ khai thuế mới dựa trên doanh thu của năm 2016.
4. Một số ví dự hướng dẫn xác định đối tượng kê khai thuế TNCN theo tháng/quý:
- Năm 2014 Công ty A được xác định thuộc diện khai thuế GTGT theo quý thì năm 2014 Công ty A thuộc diện khai thuế TNCN theo quý, không phân biệt trong năm 2014 Công ty A thực tế có phát sinh khấu trừ thuế TNCN trên 50 triệu đồng hay dưới 50 triệu đồng.
- Năm 2014 Công ty A được xác định thuộc diện khai thuế GTGT theo tháng; tháng 1, tháng 2 không phát sinh khấu trừ thuế TNCN của bất kỳ tờ khai nào; tháng 3 phát sinh khấu trừ thuế TNCN tại Tờ khai số 02/KK-TNCN nhỏ hơn 50 triệu đồng và Tờ khai 03/KK-TNCN là 50 triệu đồng (hoặc lớn hơn 50 triệu đồng); Các tháng 4 đến tháng 12 phát sinh khấu trừ thuế TNCN tại các Tờ khai 02/KK-TNCN và 03/KK-TNCN nhỏ hơn 50 triệu đồng thì Công ty A không phải nộp tờ khai của các tháng 1 và tháng 2. Từ tháng 3 Công ty A được xác định thuộc diện khai thuế TNCN theo tháng.
5. Bổ sung hồ sơ khai thuế, một số điểm mới đáng lưu ý:
- Trường hợp chưa nộp hồ sơ khai quyết toán thuế năm thì NNT được khai bổ sung hồ sơ khai thuế tạm nộp của tháng, quý có sai sót.
- Trường hợp đã nộp hồ sơ khai quyết toán thuế năm thì NNT chỉ khai bổ sung hồ sơ khai quyết toán thuế năm. Trường hợp hồ sơ khai bổ sung làm giảm số thuế phải nộp thì được khai bổ sung hồ sơ khai tháng, quý.
- Trường hợp số thuế GTGT còn được khấu trừ tăng hoặc giảm theo kết luận, quyết định xử lý về thuế của cơ quan thuế, cơ quan có thẩm quyền, NNT khai điều chỉnh vào hồ sơ khai thuế của kỳ tính thuế nhận được kết luận, quyết định xử lý về thuế (không phải lập hồ sơ khai bổ sung).
- Trường hợp khai bổ sung hồ sơ khai thuế nhưng không làm thay đổi số tiền thuế thì chỉ lập Tờ khai thuế của kỳ tính thuế có sai sót đã được bổ sung, điều chỉnh và gửi tài liệu giải thích kèm theo, không phải lập mẫu số 01/KHBS.
- Ngoài ra, thông tư còn đưa ra ví dụ kê khai thuế bổ sung cho 11 trường hợp cụ thể.
Theo Báo mới

Thứ Bảy, ngày 09 tháng 11 năm 2013

Những cánh buồm - Hoàng Trung Thông

Hai cha con bước đi trên cát
Ánh mặt trời rực rỡ biển xanh
Bóng cha dài lênh khênh
Bóng con tròn chắc nịch
Sau trận mưa đêm rích
Cát càng mịn,biển càng trong
Cha dắt con đi dưới nắng mai hồng
Nghe con bước lòng vui phơi phới
Con bỗng lắc tay cha khẽ hỏi:
Cha ơi !Sao xa kia chỉ thấy nước ,thấy trời
Không thấy nhà,không thấy cây, không thấy người ở đó?
Cha mỉm cười xoa dầu con nhỏ:
Theo cánh buồm đi mãi đến nơi xa
Sẽ có cây,có cửa,có nhà
Vẫn là đất nước của ta
Những nơi đó cha chưa hề đi đến!

Cha lại dắt con đi trên cát mịn
Ánh nắng chảy đầy vai
Cha trầm ngâm nhìn mãi cuối chân trời
Con lại trỏ cánh buồm xa nói khẽ:
Cha mượn cho con cánh buồm trắng nhé
Để con đi...

Lời của con hay tiếng sóng thầm thì
Hay tiếng của lòng cha từ thời xa lắm
Lần đầu tiên trước biển khơi thăm thẳm
Cha gặp lại mình trong tiếng ước mơ con...

Thứ Bảy, ngày 02 tháng 11 năm 2013

Công dân thứ 90 triệu vừa ra đã phải gánh nợ

Cả nước vừa trải qua những ngày tháng đau buồn bởi sự ra đi của đại tướng, với những trận mưa tầm tã kéo dài lê thê như khóc lóc, đưa tiễn người quá cố. Sau tin buồn dai dẳng đó, và những dư âm nó vẫn còn đọng lại trong mỗi người, thì dường như ông trời đã đem lại một niềm vui nho nhỏ để chia sẻ đối với sự mất mát đó. 

Vào lúc 2h45 ngày 01/11/2013 Bé gái Nguyễn Thị Thùy Dung chào đời. Là công dân thứ 90 triệu của đất nước. Sự chào đời của bé là niềm hạnh phúc lớn của gia đình, người thân và những người quan tâm đến dân số Việt Nam lúc bấy giờ. Chúng tôi rất bất ngờ và vui mừng khi biết tin con gái trở thành công dân thứ 90 triệu của đất nước. Chúng tôi sẽ cố gắng nuôi dạy cháu thật tốt", anh Dũng nói.

Sự chào đời của bé đúng là niềm hạnh phúc lớn của gia đình. Không phải ai cũng được những người như Ông Dương Quốc Trọng hay Bà Nguyễn Thị Doan, Bà Nguyễn Thị Kim Tiến đến thăm. Trong lúc mọi người đang hồ hởi, phấn khởi, nào là xem, nào là chúc mừng thì bé vẫn luôn nhắm mắt lại không màng đến những lời chúc mừng của mấy vị kia và suy nghĩ về tương lai của mình. Những gì đang hiện ra trước mắt, những thách thức, những khó khăn mà một con người đáng lẽ đến 18 tuổi hay sau khi tốt nghiệp đại học mới phải có suy nghĩ đó.

Đôi mắt luôn nhắm và suy nghĩ, mỗi ngày nghĩ chắc khoảng 16 đến 18 giờ. Được sinh ra trong một hoàn cảnh như vậy làm bé không thể không nghĩ. Là cột mốc của xã hội nên bé phải nghĩ chứ. Nhưng điều bé suy nghĩ đầu tiên là phải làm sao để trả hết số nợ này. Số nợ của riêng mình chứ chưa tính đến của cha mẹ.

Bé suy nghĩ, là một công dân Việt Nam thì phải trung với Đảng, hiếu với dân. Việc công thì phải xắn tay mà làm, không thể sống theo chủ nghĩa cá nhân được. Bổn phận làm con thì phải có hiếu với cha mẹ, ngoài việc lo cho cha mẹ lúc ốm đau, già yếu thì phải thực hiện các nghĩa vụ khác nếu cha mẹ không thể thực hiện được. Trong đó có việc trả nợ, của cá nhân cũng nợ công. 

Tuy còn nhỏ, nhưng suy nghĩ không nhỏ chút nào. Suy nghĩ của bé khá chín chắn. Cái gì của công nghĩa là dùng chung, mà dùng chung thì phải có trách nhiệm chung. Ví dụ như; Công viên để mọi người sinh hoạt thuộc sở hữu chung, thì mọi người cần có ý thức giữ vệ sinh cho môi trường đó, và thực hiện theo những nội quy trong đó đưa ra.

Theo dòng suy nghĩ đó, bé nghĩ sau này mình phải làm việc gì đó thật nhiều tiền, cứ nhiều là được, để trả nợ cho bản thân, cho gia đình. Vì số nợ hiện tại chỉ tính 4 người trong gia đình là hơn 100 chai rồi. Chưa tính đến số đó phát sinh theo cấp số nhân mỗi năm nữa. Và cũng tính toán xem sẽ sinh con vào năm bao nhiêu. Vì theo dự tính của mấy ổng làm trong cục thống kê thì năm 2002 sẽ có thành viên thứ 90 triệu. Nhưng đến mãi năm nay mới có số đó. Theo đó, phải căn chính xác để con mình không là thành viên thứ 100 triệu.

Trong lúc em đang còn suy nghĩ thì những người xung quanh đang hãnh diện với đất nước với thứ hạng cao về dân số. "Theo TS Dương Quốc Trọng, Tổng cục trưởng Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình (Bộ Y tế), với quy mô dân số 90 triệu người, Việt Nam xếp thứ 14 trong các nước đông dân nhất thế giới, đứng thứ 3 về quy mô dân số ở các nước Đông Nam Á." Với 90 triệu dân, một lực lượng nhân khẩu khổng lồ có thể nói là làm ra một khối lượng kinh tế rất lớn, đồng thời cũng là thị trường tiềm năng. Và đây sẽ là một thị trường xuất khẩu lao động tiềm năng và màu mỡ.

Nghĩ đến đây, bé đã có phần thấm mệt và ngủ quên lúc nào không hay. Mấy ổng về lúc nào bé không biết. Chỉ còn lại bố và mẹ của bé với sự chăm sóc ân cần, yêu thương. Với khuôn mặt tràn đầy hạnh phúc.

Thứ Ba, ngày 29 tháng 10 năm 2013

Đòn bẩy tài chính hay đòn bẩy để “Bay”


Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp có thể sử dụng nhiều nguồn vốn khác nhau để đáp ứng nhu cầu về vốn trong hoạt động kinh doanh. Điều quan trọng là doanh nghiệp phải biết phối hợp sử dụng nguồn vốn để tạo ra một lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp.
Quyết định về cơ cấu nguồn vốn là vấn đề tài chính hết sức quan trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí sử dụng vốn bình quân, ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi…Cơ cấu vốn cũng thể hiện tầm nhìn của ông chủ. Cơ cấu vốn hợp lý giúp cho doanh nghiệp tạo dòng tiền một cách hài hòa.
Không phải ai trong túi cũng rủng rỉnh tiền mọi lúc. Tuy nhiên, khi đi vào kinh doanh thì dù muốn hay không cũng phải có đồng vốn “giắt lưng”. Sẽ không có chuyện kinh doanh không vốn. Điều quan trọng là, số vốn giắt lưng đó được bao nhiêu so với vốn đi vay hay vốn huy động khác.
Trong doanh nghiệp, thông thường có hai nguồn vốn chính. Đó là Vốn vay và vốn chủ sở hữu. Điều gì sẽ xảy ra nếu doanh nghiệp chỉ sử dụng vốn chủ sở hữu. Phải chăng ai cũng có khả năng này. Liệu doanh nghiệp xây dựng cầu đường có sẵn trong túi mấy nghìn tỷ hay không trong khi 1km đường tại Việt Nam tính ra 28,2 triệu USD/km (Theo báo Thanh niên ngày 29/01/2013) đưa tin. Số tiền này tương đương 564 tỷ đồng. Đó là chỉ tính 1km. Phải chăng doanh nghiệp cầu đường chỉ thi công 1km rồi thôi? Và điều đó chắc chắn rằng, doanh nghiệp phải sử dụng chủ yếu là vốn vay.
Vậy nếu tỷ lệ vốn vay chiếm khoảng 90% hoặc lớn 90% thì điều gì sẽ xảy ra. Qua đây chúng ta sẽ xem xét thông qua chỉ tiêu “Đòn bẩy tài chính”. Đây là việc sử dụng vốn vay trong nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp, nhằm gia tăng tỷ suất lợi nhuận. Tuy nhiên, việc sử dụng đòn bẩy tài chính không phải lúc nào cũng đưa lại kết quả tích cực cho chủ sở hữu mà nó còn có tác động ngược nếu sử dụng không hiệu quả nguồn vốn này. Cụ thể từ công thức sau ta thấy:
 Mặt khác ta lại có: 
 Hay được viết lại :
Trong đó :
 EBIT : Lợi nhuận trước thuế và lãi vay
 ROA :Tỷ suất sinh lợi của tài sản
D : Vốn vay
i : Lãi vay
Theo đó, nếu ROA <i thì doanh nghiệp sử dụng càng nhiều vốn vay, tỷ suất sinh lợi của vốn chủ sở hữu càng giảm nhanh so với việc không sử dụng vốn vay. Theo đó, lựa chọn một cơ cấu vốn phù hợp và sử dụng hiệu quả là việc rất phức tạp và cần phải tính toán kỹ.
Đó là vấn đề của doanh nghiệp, chỉ là vấn đề vi mô. Còn nhà nước thì sao? Trong khi vốn vay của nhà nước theo tính toán hiện nay hơn 100% so với GDP. Theo số liệu thống kê trên vietnamnet ngày 26/4/2013 thì số tuyệt đối là: 128,9 tỉ USD  tương đương 2.578.000. tỷ. Nếu số này chia cho 90 triệu dân Việt Nam thì mỗi công dân phải gánh hơn 28.6 triệu đồng.
Nếu như Việt Nam mất khả năng trả nợ thì chuyện gì sẽ xảy ra trong khi việc sử dụng vốn vay không hiệu quả. Cụ thể, nếu so sánh chi phí làm 1km đường tại Việt Nam cao gần gấp rưỡi so với con đường Busan – Hàn Quốc là 19 triệu USD. Số nợ này ai sẽ trả, nếu trả thì trả bằng cách nào? Các nguồn thu chủ yếu của nhà nước dựa vào đâu thì chắc chúng ta không cần nhắc tới. Và số liệu sẽ không dừng tại đó. Mỗi ngày sẽ càng lớn hơn.
Phải chăng sử dụng vốn vay sẽ làm tăng tỷ suất sinh lợi, hay chỉ làm đòn bẩy cho chúng ta “bay” nhanh hơn mà thôi?

Thứ Ba, ngày 22 tháng 10 năm 2013

Bản chất yếu kém trong quản lý dần bộc lộ




Nhà nước Xã hội chủ nghĩa là nhà nước mà trong đó, mọi công dân "Làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu" mà như Karl Marx đã hướng tới. Nếu một xã hội như vậy thì sẽ trở về với những gì bắt đầu thời kỳ Nguyên thủy chỉ khác việc sẽ không ăn lông ở lỗ với một điều kiện cuộc sống cao. Vậy điều đó có thể thực hiện được không khi lòng tham và sự đố kỵ luôn tồn tại trong mỗi con người. 

Nói đến việc quay lòng vòng hay như Nguyễn Vũ có hát bài "Quay lại từ nơi bắt đầu". Trong tình yêu, đôi khi sự quay lại là điểm bắt đầu hạnh phúc nhất. Còn trong việc quản lý nhà nước, đặc biệt là các thủ tục hành chính thì sao. Liệu việc quay lại đó có làm giảm chi phí, tổn thất, và sức lực của người quản lý cũng như doanh nghiệp.

Như nhiều người thường nói, "Quản lý không được thì cấm". Câu nói này giờ có lẽ thành câu nói cửa miệng của những người phải làm việc với cơ quan nhà nước. Phải gặp những thủ tục hành chính, mà đúng như từ ngữ của nó mô tả "Hành" là "Chính". Liệu đó là bản chất của những người có mang Quyền lực nhà nước hay do trình độ quản lý yếu lâu ngày bộc lộ???

Chúng ta tạm dừng lại vấn đề Hành chính nêu trên, mà hãy nói sơ về Quyền lực nhà nước. Theo quan điểm của một số người thì Nhà nước pháp quyền là một nhà nước mà việc xây dựng luật pháp phải đặt lên hàng đầu. Luật pháp đó phải dựa trên quyền con người cũng như tính quy luật của xã hội, chứ không phải để phục vụ cho một nhóm người cụ thể nào. 

Vậy nếu tôi là một công dân bình thường, tôi có số điện thoại của doanh nghiệp bạn, một ngày không vui tôi Alo cho bạn và bảo bạn hãy tới gặp tôi ngay. Vậy bạn có phải thực hiện điều đó không? Câu trả lời là thích thì tới không thích thì thôi, không tới cũng chẳng làm gì nhau. Trường hợp tôi là một viên chức nhà nước, một ngày cũng không vui, tôi Alo cho bạn, yêu cầu bạn tới gặp tôi dù việc đó rất lãng xẹt, liệu bạn có dám không tới không? Hay tôi là một cảnh sát giao thông đứng trên đường, thấy xe bạn, tôi liền vẫy vào, liệu bạn có dám chạy tiếp không?? Từ những điều đó khiến chúng ta phải suy nghĩ, tại sao lại có thể làm được điều đó. 

Quay lại vấn đề trình độ yếu kém ngày càng bộc lộ trong quản lý nhà nước hiện nay. Cải cách hành chính là để cho thủ tục đơn giản hơn, đỡ rườm rà và tiết kiệm đồng thời phải mang tính hiệu quả. Tuy nhiên, với phương pháp cải cách hiện nay (2013) thì lại quay về cái ngày tôi mới bập bõm đi làm cách đây gần 7 năm.

Đơn cử như việc in hóa đơn hiện nay, năm 2010 nghị định 51/2010/NĐ-CP được bạn hành, kèm theo đó là thông tư 153/2010/TT-BTC ban hành hướng dẫn nghị định 51 về quản lý và sử dụng hóa đơn. Theo đó, việc in hóa đơn sẽ được doanh nghiệp tự quyết và tự chịu trách nhiệm. Cũng xin nhắc lại, trước đó thủ tục mua hóa đơn khá rườm rà, doanh nghiệp phải tới chi cục thuế mua từng cuốn hóa đơn, và dưới sự giám sát của người bên bộ phận ấn chỉ. Và tất nhiên việc cứ xếp hàng mua hóa đơn như vậy mất khá nhiều thời gian của doanh nghiệp, chưa nói những vấn đề phát sinh khác.

Một trong những biện pháp được cho là hữu hiệu và tiết kiệm trong việc bán hóa đơn là giao trách nhiệm đó cho doanh nghiệp. Có nghĩa là doanh nghiệp tự đặt in hay tự in tùy từng trường hợp cụ thể. Và theo đó, trách nhiệm của doanh nghiệp cũng sẽ lớn hơn. Trách nhiệm lớn ở đây theo nghĩa của những người làm luật hiểu. Chứ thực chất thì dù tự in hóa đơn hay mua hóa đơn tại chi cục thuế thì trách nhiệm doanh nghiệp phải chịu vậy thôi.

Những "phát minh", những "sáng kiến" đó tưởng chừng phù hợp, tưởng chừng là tối ưu và hiệu quả. Nhưng rồi đến một ngày, đâu cũng vào đó. Cho rằng, việc tự in hóa đơn dễ cho việc gian lận thuế, nhà nước thất thu thuế. Để tranh tình trạng này, một số văn bản đã được ban hành. Cụ thể, công văn 7527/BTC-TCT ngày 12/6/2013 của Bộ Tài Chính ban hành đối với việc in hóa đơn. Theo đó, doanh nghiệp muốn in hóa đơn phải làm công văn (theo mẫu) gửi đến cơ quan thuế. Sau đó, người bên cơ quan thuế sẽ tiến hành kiểm tra địa điểm để quyết định việc cho in hóa đơn hay không. Theo các bạn, liệu người bên cơ quan thuế xuống Doanh nghiệp bạn thì sau đó doanh nghiệp bạn được in hóa đơn bao nhiêu phần trăm. Câu hỏi này chắc ai cũng có thể trả lời được. 

Vậy liệu đó có phải là phương pháp hiệu quả trong quản lý, liệu đó phải là cách giảm chi phí cho doanh nghiệp, cho nhà nước? Trong khi quy trình mua hóa đơn lại phức tạp hơn rất nhiều so với trước đây. Cũng xin nói lại quy trình trước đây khi mua hóa đơn: 

Chuẩn bị hồ sơ ->Cơ quan thuế (ngồi chờ khoảng 1 buổi)->Mua hóa đơn và về. 

Còn theo cách "Cải cách" bây giờ thì thủ tục "có vẻ" hiệu quả hơn: 

Soạn công văn -> Gửi cơ quan thuế (Xin in hóa đơn)->Cơ quan thuế kiểm tra trụ sở ->Quyết định cho in (hoặc không cho, nhưng chắc chắn cho)-> Doanh nghiệp làm hồ sơ, gửi Công ty in hóa đơn (chờ in hóa đơn) -> Nhận hóa đơn, làm thanh lý hợp đồng-> Làm thông báo phát hành hóa đơn (Chờ 5 ngày)-> Xuất hóa đơn.

Nếu tính theo số chữ ở trên hai quy trình mua hóa đơn trước đây và bây giờ thì số chữ trong quy trình hiện này dài gấp 4 lần, như vậy cũng có nghĩa sẽ phức tạp gấp 4 lần. Nhưng liệu hiệu quả quản lý có tăng được 4 lần không? 

Một vấn đề cũng liên quan đến việc in hóa đơn của doanh nghiệp trong thời gian gần đây mà các phương tiện cũng đưa tin. Đó là sẽ phân loại doanh nghiệp để cho in hóa đơn. Việc phân loại này dựa trên tiêu chí về vốn của doanh nghiệp, địa chỉ hoạt trụ sở của doanh nghiệp. Liệu việc phân loại doanh nghiệp như vậy có hợp lý? Trong khi doanh nghiệp thành lập mới có thể đăng ký vốn điều lệ bất kỳ mà không có sự kiểm soát nào từ cơ quan nhà nước. Vậy việc dựa vào số vốn có khẳng định là phương pháp hiệu quả?

Còn nếu dựa trên địa chỉ trụ sở hoạt động của doanh nghiệp thì có chắc là doanh nghiệp có trụ sở rõ ràng sẽ làm ăn hiệu quả hơn những doanh nghiệp khác không? Đặc điểm của tôi kinh doanh Du lịch, vậy tôi có cần có một văn phòng hoành tráng nằm ngày trung tâm thành phố hay không? Đó là những câu hỏi mà các nhà quản lý phải suy nghĩ và cân nhắc. 

Đó là chúng ta chưa nhắc đến đây là thời đại Doanh nghiệp online, đẩy mạnh mảng dịch vụ chứ không phải chỉ cắm đầu vào sản xuất như trước đây nữa. 

Phải chăng đó cũng là Quyền lực công? Và có phải cái gì là quyền lực công thì phải thực hiện như những gì nó ban hành?

Thứ Tư, ngày 16 tháng 10 năm 2013

Đã đến lúc phải minh bạch thông tin

1   

            Vấn đề cốt lõi của thị trường chứng khoán.

Khi mua một chiếc xe máy người ta cần tìm hiểu uy tín của hãng sản xuất và cửa hàng đại lý, điều kiện bảo hành, xem mẫu, đi thử, tìm cơ hội để so sánh giá cả và những dữ kiện khác trước khi quyết định. Khi mua cổ phần, người mu abo tiền ra mua lấy một thứ quyền tài sản vô hình được gọi là cổ phần- khi thì được xác nhận bởi một tờ cổ phiếu , khi chỉ được ghi nhận thông qua bút toán hoặc ghi vào danh sách cổ đông.
Giá trị của cổ phần phụ thuộc vào tình hình kinh doanh của công ty phát hành: khi công ty thua lỗ hoặc phá sản thì cổ phần chẳng có giá trị nhiều hơn mảnh giấy được dùng để in ra nó. Người mua không có cơ hội xem mẫu, so sánh hoặc đi thử. Yếu tố quyết định để mua cổ phần là niềm tin của người mua vào người phát hành; trong niềm tin đó hẳn có một chút phiêu lưu, song về cơ bản phải có những cơ sở nhất định người ta mới có thể tạo dựng được niềm tin.

Thứ Sáu, ngày 30 tháng 8 năm 2013

Thuế thu nhập cá nhân có hiệu lực từ ngày 01/10/2013


So với các văn bản hướng dẫn trước đây, thông tư 111/2013/TT-BTC hướng dẫn thực hiện kê khai thuế TNCN có hiệu lực từ ngày 01/10/2013 có một số điểm mới.

Đối với thuế suất và các bậc thuế không có sự thay đổi. 

Bậc thuế
Phần thu nhập tính thuế/năm (triệu đồng)
Phần thu nhập tính thuế/tháng (triệu đồng)
Thuế suất (%)
1
Đến 60
Đến 5
5
2
Trên 60 đến 120
Trên 5 đến 10
10
3
Trên 120 đến 216
Trên 10 đến 18
15
4
Trên 216 đến 384
Trên 18 đến 32
20
5
Trên 384 đến 624
Trên 32 đến 52
25
6
Trên 624 đến 960
Trên 52 đến 80
30
7
Trên 960
Trên 80
35
Cách tính thuế
Thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công là tổng số thuế tính theo từng bậc thu nhập. Số thuế tính theo từng bậc thu nhập bằng thu nhập tính thuế của bậc thu nhập nhân (×) với thuế suất tương ứng của bậc thu nhập đó.
Để thuận tiện cho việc tính toán, có thể áp dụng phương pháp tính rút gọn theo phụ lục số 01/PL-TNCN ban hành kèm theo Thông tư này.