Thứ Ba, 11 tháng 6, 2013

Một số điểm mới về tài sản cố định

Ngày 25/04/2013, Bộ Tài chính ban hành thông tư số 45/2013/TT-BTC hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10/6/2013 và áp dụng từ năm tài chính năm 2013 thay thế Thông tư số 203/2009/TT-BTC ngày 20/10/2009, một số điểm mới như sau:
1. Về tiêu chuẩn nhận biết tài sản cố định:

Tại Điểm c, Khoản 1, Điều 3 quy định: “Nguyên giá tài sản cố định được xác định một cách đáng tin cậy và có giá trị từ 30 triệu  đồng trở lên”. Trước đây quy định là từ 10 triệu đồng trở lên.


Trường hợp một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau, trong đó mỗi bộ phận cấu thành có thời gian sử dụng khác nhau và nếu thiếu một bộ phận nào đó mà cả hệ thống vẫn thực hiện được chức năng hoạt động chính của nó nhưng do yêu cầu quản lý, sử dụng tài sản cố định đòi hỏi phải quản lý riêng từng bộ phận tài sản thì mỗi bộ phận tài sản đó nếu cùng thoả mãn đồng thời ba tiêu chuẩn của tài sản cố định được coi là một tài sản cố định hữu hình độc lập.

Bổ sung Khoản 3, Điều 3 và quy định thêm một số khoản chi không phải là tài sản cố định vô hình: ..., “chi phí mua để có và sử dụng các tài liệu kỹ thuật, bằng sáng chế, giấy phép chuyển giao công nghệ, nhãn hiệu thương mại, lợi thế kinh doanh không phải là tài sản cố định vô hình mà được phân bổ dần vào chi phí kinh doanh của doanh nghiệp trong thời gian tối đa không quá 3 năm theo quy định của Luật thuế TNDN.”
Tuy nhiên,cũng phụ thuộc vào một số trường hợp mà chúng ta phân loại cho đúng. Có nhiều trường hợp giá trị lớn hơn 30 triệu nhưng không phải là TSCĐ. Theo đó, không chỉ dựa vào tiêu chí giá trị mà đưa vào TSCĐ.
2. Điều kiện quyền sử dụng đất được ghi nhận là tài sản cố định vô hình:


Tại Điểm đ, Khoản 2, Điều 4  quy định cụ thể từng trường hợp tài sản cố định vô hình là quyền sử dụng đất và Quyền sử dụng đất không ghi nhận là TSCĐ vô hình:
- TSCĐ vô hình là quyền sử dụng đất bao gồm: Quyền sử dụng đất được nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất hoặc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp pháp (bao gồm quyền sử dụng đất có thời hạn, quyền sử dụng đất không thời hạn); Quyền sử dụng đất thuê trước ngày có hiệu lực của Luật Đất đai năm 2003 mà đã trả tiền thuê đất cho cả thời gian thuê hoặc đã trả trước tiền thuê đất cho nhiều năm mà thời hạn thuê đất đã được trả tiền còn lại ít nhất là năm năm và được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Nguyên giá TSCĐ là quyền sử dụng đất được xác định là toàn bộ khoản tiền chi ra để có quyền sử dụng đất hợp pháp cộng (+) các chi phí cho đền bù giải phóng mặt bằng, san lấp mặt bằng, lệ phí trước bạ (không bao gồm các chi phí chi ra để xây dựng các công trình trên đất); hoặc là giá trị quyền sử dụng đất nhận góp vốn.
- Quyền sử dụng đất không ghi nhận là TSCĐ vô hình gồm: Quyền sử dụng đất được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất; Thuê đất trả tiền thuê một lần cho cả thời gian thuê (thời gian thuê đất sau ngày có hiệu lực thi hành của Luật đất đai năm 2003, không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) thì tiền thuê đất được phân bổ dần vào chi phí kinh doanh theo số năm thuê đất; Thuê đất trả tiền thuê hàng năm thì tiền thuê đất được hạch toán vào chi phí kinh doanh trong kỳ tương ứng số tiền thuê đất trả hàng năm.
- Đối với các loại tài sản là nhà, đất đai để bán, để kinh doanh của công ty kinh doanh bất động sản thì doanh nghiệp không được hạch toán là TSCĐ và không được trích khấu hao.
3. Nguyên tắc trích khấu hao TSCĐ
Bổ sung thêm Khoản 10, Khoản 11 Điều 9 như sau:
...“10. Đối với các công trình xây dựng cơ bản hoàn thành đưa vào sử dụng, doanh nghiệp đã hạch toán tăng TSCĐ theo giá tạm tính do chưa thực hiện quyết toán. Khi quyết toán công trình xây dựng cơ bản hoàn thành có sự chênh lệch giữa giá trị tạm tính và giá trị quyết toán, doanh nghiệp phải điều chỉnh lại nguyên giá tài sản cố định theo giá trị quyết toán đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Doanh nghiệp không phải điều chỉnh lại mức chi phí khấu hao đã trích kể từ thời điểm tài sản cố định hoàn thành, bàn giao đưa vào sử dụng đến thời điểm quyết toán được phê duyệt. Chi phí khấu hao sau thời điểm quyết toán được xác định trên cơ sở lấy giá trị quyết toán tài sản cố định được phê duyệt trừ (-) số đã trích khấu hao đến thời điểm phê duyệt quyết toán tài sản cố định chia (:) thời gian trích khấu hao còn lại của tài sản cố định theo quy định.
11. Đối với các tài sản cố định doanh nghiệp đang theo dõi, quản lý và trích khấu hao theo Thông tư số 203/2009/TT-BTC nay không đủ tiêu chuẩn về nguyên giá tài sản cố định theo quy định tại Điều 2 của Thông tư này thì giá trị còn lại của các tài sản này được phân bổ vào chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thời gian phân bổ không quá 3 năm kể từ ngày có hiệu lực thi hành của Thông tư này.”
Ngoài ra Thông tư này còn quy định các nội dung:
- Phương pháp trích khấu TSCĐ: Mỗi tài sản cố định chỉ được phép thay đổi một lần phương pháp trích khấu hao trong quá trình sử dụng và phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp. (trước đây quy định tối đa không quá hai lần)
- Trích khấu hao đối với tài sản cố định vô hình là quyền sử dụng đất giao có thu tiền có thời hạn thay vì phân bổ chi phí tương ứng với thời hạn sử dụng đất,

Doanh nghiệp tự xác định thời gian trích khấu hao của tài sản cố định vô hình nhưng tối đa không quá 20 năm.
Trên đây là một số điểm mới của Thông tư số 45/2013/TT-BTC so với Thông tư số 203/2009/TT-BTC ngày 20/10/2009 của Bộ Tài chính;

Download Thông tư số 45/2013/TT-BTC tại đây:

Lê Minh Quân
Giám đốc
Công Ty Tư Vấn Chính Phương

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét