Thứ Tư, 16 tháng 10, 2013

Đã đến lúc phải minh bạch thông tin

1   

            Vấn đề cốt lõi của thị trường chứng khoán.

Khi mua một chiếc xe máy người ta cần tìm hiểu uy tín của hãng sản xuất và cửa hàng đại lý, điều kiện bảo hành, xem mẫu, đi thử, tìm cơ hội để so sánh giá cả và những dữ kiện khác trước khi quyết định. Khi mua cổ phần, người mu abo tiền ra mua lấy một thứ quyền tài sản vô hình được gọi là cổ phần- khi thì được xác nhận bởi một tờ cổ phiếu , khi chỉ được ghi nhận thông qua bút toán hoặc ghi vào danh sách cổ đông.
Giá trị của cổ phần phụ thuộc vào tình hình kinh doanh của công ty phát hành: khi công ty thua lỗ hoặc phá sản thì cổ phần chẳng có giá trị nhiều hơn mảnh giấy được dùng để in ra nó. Người mua không có cơ hội xem mẫu, so sánh hoặc đi thử. Yếu tố quyết định để mua cổ phần là niềm tin của người mua vào người phát hành; trong niềm tin đó hẳn có một chút phiêu lưu, song về cơ bản phải có những cơ sở nhất định người ta mới có thể tạo dựng được niềm tin.
Thị trường chứng khoán và các công ty cổ phần niêm yết sẽ trở nên phổ biến ở nước ta, khi:
     a) Người dân có cơ sở đẻ tin rằng những thông tin về doanh nghiệp , kế hoạch cũng như tương lai kinh doanh do người quản trị công ty phát hành đưa ra là đáng tin cậy;
b) Người quản trị công ty thu tiền của dân để kinh doanh một cách hợp lý vì lợi ích của cổ đông chứ không vì lợi riêng của bản than và gia đình họ mà bóc lột cổ đông thiểu số. Trọng tâm của pháp luật và thể chế cần thiết cho một thị trường chứng khoáng, suy cho cùng là nhằm bảo vệ một cách có hiệu quả lợi ích của cổ đong thiểu số trước nhưng luồng thông tin bất cân xứng; thiếu những thiết chế đó thì không ai dám “chung voi nới nhà chúa”.
Niềm tin: niềm tin là một thứ khó có, song lại đễ mất. Trong thị trường chứng khoán, người quản trị các công ty niêm yết là người biết rõ nhất về tình hình công ty của họ. Tạo ra pháp luật buộc họ cung cấp thông tin thì dễ, nhưng buộc họ cung cấp thông tin chính xác, có thể tin cậy được thì rất khó.
Tương tự như vậy, ngăn ngừa người quản trị công ty lợi dụng thông tin ( nội gián) để làm lợi cho mình và gây thiệt hại cho cổ đông, quả là cô cùng khó khăn.

Lợi ích của người quản trị: Công ty suy cho cùng là một tập thể nhiều người, có tài sản riêng được kiểm soát bởi một số người nhất định. Khái niệm người quản trị được dung dưới đây để chỉ những người có quyền quản lý và kiểm soát công ty, thường là thành viên ban giám đốc, hội đồng quản trị hoặc những cổ đông đa số, chiếm cổ phần chi phối trong công ty.

Trong các CTCP được chuyển đổi ở nước ta hiện nay, đa số người quản trị đã từng là lãnh đạo trong các DNNN trước đây - quá trình cổ phần hóa đã không làm thay đổi đáng kể cơ cấu nhân sự của lãnh đạo trong các doanh nghiệp.
Người quản trị ở cấp nào cũng có quyền, quyền thường gắn liền với lợi ích kinh tế, chính trị và tinh thần. Ngoài các khoản thù lao được hưởng, người quản trị có khả năng kiểm soát thong tin trong doanh nghiệp. Vị trí quản lý cho phép họ tiệm cận và xây dựng các mối quan hệ mang lại nhiều lợi ích lâu dài cho cá nhân và gia đình. Bởi thế, bất kì ai, khi đã có quyền đều không muốn tự nguyện rời bỏ đam mê đó.
Họ tìm cách cống đỡ lại các sức ép ngoại diên, chống đỡ các sức ép của cổ đông. Vì không phải là thiên thần nên người quản trị thường có xu hướng khuếch đại thành công của doanh nghiệp trong quá khứ, thuyết phục cổ đông về triển vọng kinh doanh trong tương lai để củng cố địa vị của mình.
Thêm nữa, từ cơ chế vượt rào, kế hoạch ba trong thời bao cấp cho đến cơ chế quản lý tài chính và quản lý chi tiêu ngân sách quá lỗi thời, đã tạo ra một thói quen “ lách luật” – thiếu trung thực, thiếu kỷ cương phổ biến trong xã hội VN. Cán bộ quản lý doanh nghiệp nhà nước được “tôi luyện” trong “nghệ thuật” tìm kiếm các nguồn vốn được cấp từ ngân sách, tìm cách chi tiêu nguồn vốn đó sao cho có lợi cho doanh nghiệp cho người lao động và cho chính họ. Nay chuyển sang quản lý các VTVP, thói quen đó không thể nhanh chóng tiêu biến đi được.
Ngoài ra khi mà thương trường được coi là chiến trường, thì sơ hở về ý đồ kinh doanh và sự thật thà loan báo thông tin có ý nghĩa gần như tự sát trước đối thủ cạnh tranh. Không một người quản trị nào có thể ngây thơ cung cấp đầy đủ và kịp thời tất cả thong tin theo yêu cầu của trung tâm giao dịch chứng khoán, nhất là khi trung tâm đó vẫn soạn thảo các yêu cầu về bản cáo bạch với nhãn quan gần như của cơ quan thế vụ, yêu cầu doanh nghiệp càng nộp và khai báo nhiều càng tốt.
Thêm vào đó, cung cách quản lý của người châu á về cơ bản là tập trung thong tin làm cho người bị quản lý lệ thuộc vào lãnh đạo, điều này có phần khác với người mỹ vốn quen phan chia thẩm quyền và khuyến khích sự tự quyết định của nhân viên cấp dưới. Những thói quen này chi phối mạnh mẽ tới người quản trị trước khi họ quyết định cung cấp thong tin do họ đưa ra bao giờ cũng cần được xem xét một cách phê phán.
Từ trung thực, đầy đủ, đúng yêu cầu, cho tới cố ý gây nhầm lẫn  hoặc lừa đảo… tất cả những điều đó đôi khi rất tương đối, gần nhau trong gang tấc, vì nó phụ thuộc vào cách phán xét chủ quan của con người.

Lợi ích của nhà đầu tư: 
Người dân mua cổ phần để kiếm lời. Khi một công ty làm ăn có lãi trong quá khứ, có dự án đầu tư nhiều triển vọng, được đại diện bởi những người quản trị có thể tin được… thì người ta quan tâm đến cổ phần của côn gty đó. Khi mua cổ phàn, người dân thương ít quan tâm đến các cuộc họp đại hội đồng cổ đông và tham gia quản lý kinh doanh, mà mong chờ mệnh giá cổ phiếu gia tang để bán lại kiếm lời hoặc mong được hưởng cổ tức.

Nếu xuất hiện những dấu hiệu có thể làm cho niềm tin đó sụp đổ, ngời ta tìm cách bán cổ phiếu để cứ vớt vốn đầu tư, nếu còn kip. Như vậy, cổ đông – nghưng nhà đầu tư cần có cơ sở và cơ hội để tự đánh giá những thong tin do người quản trị côn gty phát hành cung cấp. việc xâu dựng niềm tin này cân nhiều thời gian.
Từ hàng nghìn năm nay, người dân VN vốn không có thói quen tin vào thương nhân. Những cuộc đổi tiền liên tục cuối những năm 80, sự mất giá của đồng tiền VN và hàng loạt các quỹ tín dụng phá sản đầu những năm 90 góp phần làm cho người dân nước ta thiếu niềm tin vào đồng tiền trong nước và các thiết chế ngân hàng -  bởi nếu có tích lũy, người ta vội vàng tích trữ vàng, mua ngoại tệ hay bất động sản. Những nhà kinh doanh tài ba song trung thực, giàu có sống thanh cao chưa thể xuất hiện trong một xã hội còn thiếu niềm tin vào giới kinh doanh.
Chừng nào chưa có niềm tin này thì chẳng thể đặt niềm tin vào thị trường chứng khoán như một kênh huy động vốn trong công chúng. Doanh nhân VN cũng ít có cơ sở để hy vọng việc niêm yết công ty tại những thị trường chứng khoán phát triển để thu hút vốn của nước ngoài. Nhiều công ty của Nga đã thất bại trong việc phát hành chứng khoán tại mỹ, vì người đầu tư Mỹ không thể dễ dàng có được niềm tin đối với thông tin mà người quản trị công ty nga đưa ra, và nếu thông tin đó có gây nhầm lẫn hoặc có chủ ý lừa đảo thì cổ đông Mỹ cũng ít có khả năng thực thi quyền lợi của mình một cách có hiệu quả tại Nga.

Tóm lại, từ niềm tin, thói quen, các thiết chế cho đến khả năng quản lý của người trong nước, cũng như so sánh với kinh nghiệm tương đồng của người hoa, có nhiều cơ sở để dự báo mô hình kinh doanh chủ yếu của người VN trong một tương lai gần vẫn là những doanh nghiệp vừa và nhỏ; sức mạnh của họ chủ yếu là niềm tin giữa những người trong một gia đình, dòng họ, bạn bè.

Mạng lưới của vô số những doanh nghiệp nhỏ này sẽ là một công cụ lợi hại để tập trung vốn và khi thác nhanh chóng những khe hở của thị trường. hiện chưa có một dấu hiệu thuyết phục nào cho thấy các công ty đại chúng sẽ trở nên phổ biến nhanh chóng ở nước ta.
Từ tích trữ vàng cho tới mua cổ phần trong các công ty đại chúng: cuộc cách mạng của nhiều thế hệ

Tính toàn diện và động bộ của thế chế: Để đạt được mục đích các thông tin do người quản trị đưa ra là đáng tin cậy và ngăn ngừa người quản trị lạm dụng vị trí của mình để bóc lột cổ đông, cần tới rất nhiều giải pháp đồng bộ. Từ pháp luật công ty cho tới pháp luật kiểm toán, pháp luật về ngân hàng và các định chế tài chính, pháp luật về niêm yết và phát hành chứng khoán, pháp luật tư vấn đầu tư, luật sư, hình sự, tổ chức tòa án và thi hành án… tất cả những yếu tố đó đều liên quan mật thiết tới việc bảo hộ quyền lợi của người đầu tư chứng khoán.

Những cơ sở pháp lý và thiết chế cần thiết này đã được hình thành ở VN. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng: LDN 2005, LCK 2006 (sửa đổi 2010) dù hiện đại cũng ít tác dụng nếu thiếu những kiểm toán viên trung thực và chỉ tuân thủ đạo đức nghề nghiệp, công lao của kiểm toán viên cũng như dã tràng xe cát nếu thiếu một hệ thống tư pháp độc lập, và phán quyết của tòa cũng không thể tạo ra công lý nếu thiếu các thiết chế thi hành án cá hiệu lực.
Trong quá trình hình thành nên những thiết chế đồng bộ này, pháp luật về thị trường chứng khoán chỉ có một vai trò khiêm tốn. kinh nghiệm của người Anh, Mỹ, Nhật hay Trung Quốc đều cho thấy trước hết cần làm cho thị trường xuất hiện, khuyến khích nhu cầu trao đổi về chứng khoán, rồi từ đó các thiết chế thị trường, các thiết chế nhà nước và pháp luật về chứng khoán mới có thể hình thành.
Mãi đến những năm 1933-1934 người Mỹ mới ban hành luật lệ kiểm soát thị trường chứng khoán -  vốn đã hình thành trước đó hàng trăm năm. Tương tự như vậy, các trung tâm giao dịch chứng khoán ở đức cũng tự xây dựng quy chế tự quản, pháp luật kiểm soát thị trường chứng khoán ở đức mới chỉ xuất hiền từ gần một thập kỷ nay, những quan sát này cho thấy không thể bằng một vài biện pháp hành chính mà khuếch trương được thị trường chứng khoán. Thói quen kinh doanh và tích lũy tài sản là một phần của văn hóa các dân tộc, việc tạo ra thói quen mua chứng khoán của người dân VN cần rất nhiều thời gian.
Thiết chế điều tiết: Để bảo vệ lợi ích của các nhà đầu tư trước những thông tin sai sự thật, gây hiểu làm hoặc có chủ ý lừa đảo và các giao dịch nội gián của người quản trị, cần tới nhiều thiết chế của nhà nước và của thị trường.
Đối với các thiết chế nhà nước cần nhấn mạnh tới vai trò của Ủy ban chứng khoán nhà nước (UBCKNN) và các cơ quan tư pháp, cơ quan điều tra, từ khi UBCKNN đưucọ thành lập cho đến nay, một hệ thống đồ sộ các băn bản pháp luật về kinh doanh chứng khoán đã ban hành.
Bên canh đó, UBCKNN cấp giấy phép hành nghề cho người kinh doanh chứng khoán, cấp giấy phép thành lập các tổ chức trung gian và giám sát hoạt động của các tổ chức này, thành  lập các sở giao dịch chứng khoán ở TPHCM và Hà Nội cũng như tiến hành đào tạo nhiệp vụ về nghề kinh doanh chứng khoán.
Cơ sở pháp lý quy định những  nghĩa vụ cơ bản của người quản trị và quyền lợi của nha đầu tư đã hình thành, xem LCK 2006 sửa đồi 2010, luật kiểm toán độc lập 2011. Tuy nhiên trong việc thực hiện các quy định trên trong thực tế phụ thuộc một phần lớn vào hiệu quả  hoạt động của cơ quan điều tra và hệ thống tư pháp .
Khi mà nhân viên các cơ quan điều tra và thẩm phán chưa được trang bị tri thức về giá trị cảu mỗi thông tin đối với mệnh giá cổ phần, khi cổ đong chưa ý thức được vai trò của các khởi kiện tập thể ,thì sự ngây thơ của họ bị các nhà quản trị khai thác là dễ hiểu.

Minh bạch tài chính công ty: Các báo cáo tài chính và bản cáo bạch là nhưng công cụ cơ bản nhằm để minh bạch hóa tình hình tài chính của công ty, những thông tin được tiết lộ thông qua các công cụ này tạo cơ sở cho các nhà đầu tư quyết định mua hoặc bán cổ phần trong công ty.

Nội dung của các báo cáo tài chính và bản cáo bạch phải toàn diện và đầy đủ, song cũng cần linh hoạt.
 Bởi lẽ nếu UBCKNN yêu cầu côn gty phát hành tiết lộ quá nhiều thông tin nhạy cảm thì sẽ không có nhiều doanh nghiệp dám chấp nhận rủi ro bị đối thủ cạnh tranh tước mất cơ hội kinh doanh trước khi có thể huy động vốn từ việc phát hành chứng khoán. Xem thêm § 101 LCK 2006, sửa đổi 2010. Pháp luật chứng khoán quy định những loại thông tin công ty đại chúng cần cung cấp định kỳ và nghĩa vụ cung cấp những thông tin bất thường theo § 101.2 LCK
Các định chế trung gian gây dựng niềm tin:
Việc xây dựng các côn gcuj để minh bạch hóa tình hình tài chính công ty la một thành công ban đầu, song làm cho các công cụ đó phát huy tác dụng, bảo đảm các thông số do người quản trị đưa ra là trung thực, kịp thời, đầu đủ và đáng tin cậy mới là giai đoạn khó khăn hơn. Việc này, ngoài các thiết chế công quyền, cần tới rất nhiều các định chế trung gian.
Từ kế toán viên trong doanh nghiệp cho đến các nhân viên kiểm toán , các nhà tư vấn đầu tư chứng khoán, luật sư và thị trường giao dịch… tất cả nhưng cá nhân và tổ chức đó là những người trung gian giữa công ty phát hành và người mua cổ phần. nếu những định chế trung gian này không tuân thủ các nguyên tắc nghề nghiệp chặt chẽ thì các bản cáo bạch dù chi tiết đến đâu cũng không được thẩm định một cách khách quan, và vì thế rất ít độ tin cậy.
Đối với những định chế trung gian này, một mặt UBCKNN đã ban hành các quy định đa dạng nhằm giám sát, kiểm tra điều kiện tối thiều trước khi cấp phép hành nghề, cho tới rằng buộc trách nhiệm của họ đối với tính mẫn cán, trung thực và chính xác của dịch vụ. mặt khác, từ kinh nghiệm quốc tế, cần tìm cách tăng cường đạo đức nghề nghiệp thông qua các biện pháp giáo dục đạo đức nghê nghiệp hoặc tự lập quy của các nghiệp đoàn, hội hiệp phi chính phủ.
Điều này dường như chưa được quan tâm đúng mức ở nước ta; hội hiệp của các luật sư, kiển toán viên , kết toán viên hoặc của những người hành nghề mới lạ như tư vấn đầu tư, tư vấn chứng khoán, môi giới chứng khoán… đang trong giai đoạn hình thành và định hướng hoạt động.
Có lẽ do quen với chức năng là một tổ chức đoàn thể trong hệ thống chính trị thống nhất, các nghiệp đoàn sao nhãng dần chức năng củng cố đạo đức hành nghề và đại diện cho lợi ích của hội viên trước các cơ quan công quyền. thêm nữa, trong một xã hội mà những giá trị đạo đức thuyền thống đang b ị xói mòn, danh dự nghề nghiệp chưa trở thành một nguồn tư bản xã hội quyết định sự tồn tại và thành công của những người hành nghề cung cấp dịch vụ này.

Trách nhiệm pháp lý đối với công ty và người quản trị: Từ phạt hành chính, rút giấy phép, trách nhiệm hình sự cho tới bồi thường thiệt hại dân sự, pháp luật nước ta đã cung cấp những chế tài đa dạng nhằm ngăn chặn và xử lý các hành vi thiếu trách nhiệm hoặc cố ý gây nhầm lẫn, lừa đảo của các định chế trung gian của người phát hành và người quản trị.

Những vụ phá sản của nhiều công ty lớn của Mỹ trong năm 2002, từ Enron cho tơi worldcom, cho thấy nguy cơ lừa dối trong các báo cáo tài chính luôn hiện hữu trong bất kì một thị trường nào. Chính phủ mỹ đã gia tăng các chế tài hình sự để ngăn chặn ảnh hưởng lây lan theo thói quen thiếu trung thực trong minh bạch tài chính công ty.
Trong một thị trường đang hình thành như ở VN, khi mà các thiết chế giám sát còn non kém, nguy cơ cổ đông bị lừa gạt bởi những thông số sai sự thực là rất lớn.  trong những tình huống này, khả năng  thực thi quyền của cổ đông ohuj thuộc cơ bản vào tính hiệu quả của các cơ quan điều tra và cơ quant ư pháp.
Các cơ quan này không những phải độc lập, mà còn cần am hiểu thị trường chứng khoán. Tính đọc lập ở đây ít nhất được hiểu theo 2 nghĩa:
a) Độc lập so với các thế lực chính trị
b) Độc lập so với các thế lực kinh tế. kinh tế thị trường càng phát triển, một thế lực kinh tế vô hình của những người quản trị các công ty lớn sẽ trỗi dậy và tìm cách khống chế các cơ quan tư  pháp -  thậm chí khống chế cả nhà nước.

Vai trò của báo chí và công luận: Để bảo vệ quyền lợi của nha đầu tư chứng khoán, cần tới rất nhiều công cụ và thiết chế khác nữa, ví dụ sự minh bạch của các giao dịch trên một thị trường , tránh đầu cơ, lũng đoạn và gây rối. trong rất nhiều các yếu tố đó, báo chí có một vai trò rất quan trọng trong  việc phát hiện các dấu hiệu bất bình thường và báo động cho các nhà đầu tư, cũng như cho vay vốn, mua bán chứng khoán là những giao dịch rất nhạy cảm với thông tin.

Bởi thế những người truyền tin có một sức mạnh đáng kể trong việc định hướng dư luận và từ đó tác động đén cách ứng xẻ của các nhà đầu tư. Song giống như các cơ quan ddieuf tra và tư pháp, báo chí cũng đứng trước nguy cơ bị thao túng bởi các nhà quản trị có thế lực kinh tế. nếu điều đó diễn ra thì cổ đông dường như mất đi khả năng đưuọc cảnh báo, cơ hội tự bảo vệ của họ trước sự bóc lột của các nhà quản trị sẽ bị suy giảm. thị trường chứng khoán cung cấp thêm một lý do cho sự cần thiết của báo chí độc lập.
Kết luận: thị trường chứng khoán là một trong rât nhiều kênh đa dạng để huy động vốn trong công chúng vì mục đích kinh doanh. Tùy theo quan điểm truyền thống và văn hóa dân tộc mà mỗi quốc gia có những kiểu huy động vốn riêng biệt. nếu như thị trường chứng khoán mạnh và phân tán rộng rãi trong công chúng là đặc trưng cho nền kinh tế Mỹ, thì các nền kinh tế khác ở châu á về cơ bản vẫn dựa trên liên kết mang tính gia đình.
Cuộc trường chinh của VN tiến tới một xã hội cổ đông cần tới sự góp sức của rất nhiều thiết chế nhằm xâu dựng niềm tin của người dân vào các nhà quản trị. Khi mà hệ thống ngân hàng, kiểm toán, kế toán, tư pháp và bộ trợ tư pháp cũng như các thiết chế xây dựng niềm tin khác còn yếu, kênh huy động vốn này chỉ có thể có một vai trò khiêm tốn trong thị trường tài chính Việt Nam.                                               
Theo PGS. TS Phạm Duy Nghĩa - Chương trình kinh tế Fulbright 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét