Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014

Hiếm muộn thật khó sống

Từ khi hội nhập nền kinh tế đến nay, những hiệp định liên quan đến thuế đã được những nước thành viên ủng hộ và thực thi. Trong đó hiệp định tránh đánh thuế 2 lần là một hiệp định tiêu biểu và thể hiện rõ nét. Việc ký kết Hiệp định này sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển của quan hệ hợp tác thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và các nước thành viên, tạo ra một môi trường pháp lý về thuế rõ ràng, ổn định để các nhà đầu tư giữa Việt Nam và các thành viên phát triển, mở rộng các hoạt động kinh doanh - đầu tư, đồng thời qua đó gián tiếp tăng cường quan hệ hợp tác toàn diện trên các lĩnh vực giữa Việt Nam và các nước trong khối.

Đó là vấn đề liên quan đến mối quan hệ giữa những quốc gia với nhau, còn trong mỗi quốc gia đó lại có những chính sách, những chủ trương riêng hay là có luật thuế riêng cho quốc gia đó. Tại quốc gia đó, việc thu thuế cao hay thấp, chính sách siết chặt hay nới lỏng thì đôi khi còn phụ thuộc vào một nhóm người quyết định. 

Nền kinh tế trong thời gian hiện nay như một người bệnh, cần phải được dưỡng bệnh và uống những viên thuốc bổ nhằm lấy lại sức lực. Nếu trong lúc suy yếu, kiệt quệ này mà sử dụng loại thuốc quá liều thì cũng tạo ra tác dụng phụ. Hãy cho người bệnh ăn cháo trắng trước khi cho ăn những thứ bổ dưỡng khác. Như vậy mới dễ hấp thu và tiêu thụ.

Bên cạnh đó, cũng trong tình trạng này, nếu chỉ cần một động tác nhỏ, sơ ý hay cố ý cũng có thể làm người bệnh lăn ra ngay lập tức và không còn sức kháng cự. Những động tác đó, những lỗi vô ý hay cố ý đó chính là những chính sách, những văn bản được ban hành liên quan đến doanh nghiệp hiện nay.

Liệu những nhà hoạch định chính sách có cần VI HÀNH như những ông vua ngày xưa. Muốn do thám tình hình đành phải giả dân, đi vào dân dò thám tình hình? Nhưng đó là ngày xưa, còn giờ, khi mà ngồi ở đâu cũng có thể lướt web, có thể nghe ngóng mọi điều, dù những thông tin đó cần phải được sàng lọc. Tuy nhiên, qua đó nó phản ảnh phần nào tình hình thực tế. Hãy nhắm mắt lại nếu thấy buồn và hãy mở mắt thật to nếu cần phải làm điều gì đó để thay đổi.

Cuối năm 2013 đầu năm 2014 một số văn bản liên quan hướng dẫn luật thuế GTGT ra đời, nổi bật là nghị định 209/2013/NĐ-CP và thông tư 219/2013/TT-BTC hướng dẫn thi hành nghị định trên. Một điểm nổi bật và làm tất bật doanh nghiệp đó là Phương pháp tính thuế GTGT. Một lần nữa lại thấy cảnh cơ cực của doanh nghiệp như năm 2010 khi thông tư 153/2010/TT-BTC ra đời. Nhưng điều đáng nói ở đây không dừng lại ở thủ tục mà còn nội dung và những ảnh hưởng của nội dung được ban hành đó. Cụ thể:

Điều kiện để được áp dụng phương pháp khấu trừ thuế GTGT là: Cơ sở kinh doanh đang hoạt động có doanh thu hàng năm từ bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ từ một tỷ đồng trở lên và thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hóa đơn, chứng từ, trừ hộ, cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp tính trực tiếp hướng dẫn tại Điều 13 thông tư 219/2013/TT-BTC.

Theo đó, chúng ta có thể phần tích tính lãng phí và không phù hợp ở điểm này như sau: Doanh nghiệp A thành lập năm 2014, khi chưa xác định được doanh thu thì phải áp dụng theo phương pháp trực tiếp. Theo phương pháp này, thuế GTGT đầu vào sẽ không được khấu trừ. Giả sử DN A mua hàng hóa hết 1 tỷ đồng, và bán ra được 1.2 tỷ, thì DN A phải chi là 1.1 tỷ (Thuế GTGT đầu vào là 100 triệu). Và khi thực hiện bán lô hàng kia ra, với doanh thu 1.2 tỷ, DN A lại phải đóng thuế GTGT trên 1.2 tỷ x 1% = 12 triệu. Vậy tổng cộng DN A phải đóng 112 triệu đồng tiền VAT. Như vậy có hợp lý không. Phải chăng đây là cách hợp pháp hóa tăng thuế suất thuế GTGT. Và thuế suất lúc này tối thiểu cũng 11%. Đó là tính với DN thương mại. Còn dịch vụ thì sao, lúc đó con số này sẽ là 15%. Tính lãng phí ở đây được thể hiện, nếu doanh nghiệp in một số cuốn hóa đơn bán hàng, sau 1 năm sử dụng không hết, và doanh số trên 1 tỷ theo yêu cầu. Doanh nghiệp phải hủy hóa đơn và in lại hóa đơn GTGT. Có nên như vậy không?

Trong công văn 471/CT-TTHT có hướng dẫn việc áp dụng phương pháp khấu trừ thuế: Doanh nghiệp, hợp tác xã mới thành lập có thực hiện đầu tư, mua sắm tài sản cố định, máy móc, thiết bị, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam theo hợp đồng nhà thầu, hợp đồng nhà thầu phụ theo hướng dẫn của Bộ Tài chính; Và để có thể chứng mình điều này doanh nghiệp phải làm bản cam kết. 
"Đối với doanh nghiệp, hợp tác xã mới thành lập có thực hiện đầu tư, mua sắm tài sản cố định, máy móc, thiết bị:
- Văn bản Thông báo về việc áp dụng phương pháp tính thuế theo mẫu số 06/GTGT ban hành kèm theo Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số Điều của Luật Quản lý thuế.
- Văn bản doanh nghiệp cam kết có thực hiện đầu tư, mua sắm tài sản cố định, máy móc, thiết bị."

Tài sản cố định thì rõ rồi, có điều kiện cụ thể. Còn thiết bị ở đây được hiểu như thế nào, thiết bị phòng cháy chữa cháy có được không, thiết bị nghe nhìn có được không? Trị giá ra sao? Việc cam kết này có thời hạn bao lâu, sau khi thành lập bao lâu thì anh phải mua sắm tài sản cố định, nếu nói chung chung thì mọi doanh nghiệp đều có thể cảm kết, vì họ xác định chiến lược lâu dài mà. 

Phải chăng doanh nghiệp lại tiếp tục bị móc túi sau khi bán hàng ngoài những khoản đã thu ngay từ khi mua hàng? ? Đó là những vấn đề cần được quan tâm và trả lời từ những lời nói thật của những người làm luật.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét